Warning: file_put_contents(u.php) [function.file-put-contents]: failed to open stream: Permission denied in /home/tuoivang/public_html/includes/data/ulist.php on line 27
Hầu như các bậc cha mẹ thấy con thiếu gì thì bổ sung đó hoặc chạy theo những lời quảng cáo mà quên những yếu tố tác động đến sự phát triển lâu dài. Cha mẹ thường mong con mình cao to và bụ bẫm nên thường có tâm lý muốn đạt điều này thật nhanh.
Thực ra, cân nặng và chiều cao là những
giá trị phát triển thể chất dễ quan sát nhất nhưng chưa đánh giá hết sự phát triển
về trí tuệ, miễn dịch và những yếu tố khác trong sự phát triển toàn diện của trẻ.
Nuôi trẻ trong 3 năm đầu, đặc biệt
là dưới 1 tuổi, thường gặp rất nhiều khó khăn do sức của trẻ còn yếu, hệ thống miễn
dịch chưa hoàn thiện nên hay mắc các bệnh đường hô hấp và tiêu hóa...
Trong thời gian này, cần lưu ý trong
lựa chọn nguồn dinh dưỡng hằng ngày, đặc biệt là nguồn dinh dưỡng từ sữa để
giúp cho trẻ phát triển toàn diện và cân đối về thể chất, tinh thần, trí tuệ cũng
như miễn dịch chống bệnh. Cần nắm rõ các thời điểm nhạy cảm sau đây để can thiệp
dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ:
- Về thể chất:Trẻ có 2 giai đoạn
phát triển vượt bậc. Giai đoạn 0 đến 5 tuổi (chịu tác động chủ yếu của chế độ
dinh dưỡng) và giai đoạn tiền dậy thì (chịu tác động chính của hormone và đồng
thời chế độ dinh dưỡng).
Ở cả hai giai đoạn này nên duy trì cân nặng và chiều cao ở mức cân đối, tránh
suy dinh dưỡng cũng như béo phì. Cần lưu ý cung cấp đầy đủ những chất hỗ trợ
cho sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể như trí não, tiêu hóa, xương khớp...
Nhiều trẻ có cân nặng và chiều cao tốt nhưng vẫn thiếu một số chất như sắt, kẽm,
vi lượng, chất xơ, một số acid amin.
- Về tâm thần
vận động: Ba năm đầu
tiên có vai trò quyết định sự phát triển của hệ thần kinh. Lúc trẻ 3 tuổi, não
nặng gấp 3 lần lúc sinh và đạt 85% não của người trưởng thành.
Khi trẻ 6 tuổi, não trẻ đã bằng não
của người lớn. Do đó, những dưỡng chất cần cho phát triển của não và hệ thần kinh
nên được cung cấp từ rất sớm, ngay từ giai đoạn bào thai (ví dụ DHA, ARA, phospholipids,
cholin, acid béo thiết yếu, cholesterol, sắt, iod, vi lượng...).
Có những nghiên cứu cho thấy sử dụng
DHA có hiệu quả nhiều nhất trong thai kỳ và 6 tháng đầu tiên. Việc cung cấp dinh
dưỡng nên đi đôi với việc tập luyện các phản xạ thần kinh, rèn luyện khả năng
tư duy và khả năng tập trung của trẻ.
- Về miễn
dịch: Trong 6 tháng
đầu tiên, trẻ được bảo vệ nhờ lượng kháng thể IgG từ mẹ thông qua nhau thai, đồng
thời trong sữa mẹ có chứa nhiều chất chống bệnh (như lactoferrin, lysozyme,
IgA). Sau đó trẻ dễ bị bệnh hơn do miễn dịch của bản thân chưa hoàn chỉnh và lượng
kháng thể mẹ cho cạn dần.
Các kháng thể chống lại kháng nguyên
polysaccharide của vi trùng chỉ tốt khi trẻ được 2 đến 3 tuổi, trong khi những
kháng thể chống bệnh (IgM và IgG) chỉ đạt được nồng độ của người lớn khi trẻ 4
đến 6 tuổi. Những miễn dịch khác (như tuyến ức, hệ võng nội mô...) còn hoàn thiện
cho đến tuổi dậy thì. Do đó, dinh dưỡng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong
phát triển và hoàn thiện miễn dịch của cơ thể.
Những chất có vai trò điều hòa hay hỗ
trợ phát triển miễn dịch là các acid béo thiết yếu, DHA, ARA, một số acid béo
chuỗi ngắn, một số acid amin, nucleotide, folate, sắt, kẽm, vitamin ADE, vitamin
BC, chất xơ...
Chế độ dinh dưỡng để giúp có một hệ
tiêu hóa khỏe mạnh cũng là yếu tố quan trọng trong việc phòng chống bệnh tật,
vì đường tiêu hóa là nơi tiếp xúc nhiều nhất với các tác nhân gây bệnh, từ nhiễm
trùng đến dị ứng. Đường tiêu hóa cũng là nơi tạo ra hơn 80% lượng kháng thể IgA
của cơ thể giúp trung hòa tác nhân gây bệnh và các độc tố của chúng.
Chế độ dinh dưỡng hợp lý sẽ giúp cân bằng quá trình viêm và dị ứng của cơ thể,
làm giảm thiểu nguy cơ dị ứng thức ăn, các bệnh lý liên quan đến dị ứng khác
(như suyễn, chàm, viêm dạ dày ruột dị ứng...), bệnh lý viêm mạn (như viêm đường
tiêu hóa mạn, bệnh Crohn, tiểu đường, bệnh Celiac)... thậm chí lymphoma,
leucemie...
Tỉ lệ trẻ béo phì cao ở trường điểm
Các khảo sát gần đây cho thấy, tỉ
lệ trẻ em VN thừa cân và béo phì đang gia tăng nhanh chóng, nhất là ở các trường
điểm, nơi đông học sinh có hoàn cảnh kinh tế gia đình khá giả, ít thời gian vận
động, chỉ chú trọng học tập.
Kết quả khảo sát ở một trường tiểu học tại một quận trung tâm TPHCM cho thấy có
47,6% học sinh bị thừa cân, béo phì, (béo phì chiếm 25,9% và dư cân
21,7%).
Trẻ béo phì ngoài những mặc cảm về
tâm lý, ngại vận động, ngại giao tiếp, học hành chậm chạp hay mệt mỏi, có
nguy cơ bị cao huyết áp, tiểu đường, gan nhiễm mỡ, đau khớp, sẽ có nguy cơ
lùn hơn các bạn vì sẽ dậy thì sớm hơn, do đó ngưng tăng trưởng sớm hơn; sức đề
kháng kém nên dễ bị mắc các bệnh nhiễm trùng, dị ứng.